Thuyết Tề vật, Tiếu Dao Du và Đại Tông Sư là tập trung thể hiện tính triết học của Trang Tử. Trang Tử đã kế thừa và phát huy tư tưởng của Lão Tử và Đạo giáo trong triết học, hình thành hệ thống tư tưởng triết học và văn phong độc đáo của mình. Ông cho rằng
Trong phần "Tề vật luận", bài cuối cùng thường được người sau gọi là "Mộng hồ điệp", hay "Trang Chu mộng hồ điệp" - đây là một đoạn văn nổi tiếng kim cổ. Câu "Không biết Chu chiêm bao là bướm hay bướm chiêm bao là Chu" rất thú vị, với lẽ "Bướm chiêm bao […]
Trang Tử (tiếng Hán: 莊子; ~365-290 trước CN là một triết gia và tác giả Đạo giáo. Ông sống vào thời Chiến Quốc, thời kỳ đỉnh cao của các tư tưởng triết học Trung Hoa với Bách Gia Chư Tử. Trang Tử là một trong những nhà tư tưởng đặc biệt vào loại hạng nhất thời ấy, rất giỏi kể chuyện, có sức tưởng tượng vô cùng phong phú.
Lão, Trang Giản Lược Pdf. TÌM HIỂU VỀ LÃO, TRANG: CHƯƠNG 2. TRANG TỬ VÀ NAM HOA KINH. Tôi đến với Trang, đến với Nam Hoa Kinh, như người đến chơi với một cổ nhân, như người bước vào một vùng đất mới mẻ, mặc dầu biết rằng trước đây, nơi ấy đã có nhiều người khai
Trịnh Trang công còn can thiệp vào chuyện các nước chư hầu như nước Lỗ, nước Tống, nước Vệ, giúp nước Tề chống Nhung địch, hoành hành nhiều năm, lấn át quyền lực của Thiên tử, chính ông tạo tiền đề cho việc lấn át Thiên tử của các chư hầu về sau.
Huyền Đồng 2. Lão Tử Đạo Đức Kinh- Thu Giang Nguyễn Duy Cần . Huyền Đồng 2. Đối với tất cả mọi hiện tướng trên đời đều chứa đựng mâu thuẫn , nhưng những mâu thuẫn đều chỉ là bề mặt bề trái của thực tại . Người đã thực hiện được sự Huyền Đồng nơi
aTsj87. Trang Tử370-287 Môn học Triết học Trung Hoa Giáo sư Vũ Minh Trí, Học viên Trần Văn Đỉnh, Trong một xã hội mà công nghệ và sự thực dụng đang lên ngôi, thì việc xem xét sự hữu dụng và vô dụng quả là cần thiết. Phải chăng những thứ mà nhiều người cho là vô dụng thì đúng là vô dụng? Hay những thứ xem ra vô dụng đó lại là hữu dụng? Ta cần phải có cái nhìn như thế nào về sự hữu dụng và vô dụng? Tác giả bài viết nỗ lực trả lời cho những câu hỏi vừa nêu qua việc khảo cứu tư tưởng của Trang Tử trong tác phẩm Nam Hoa Kinh. Dẫn nhập Con người thời nay xem trọng những gì hữu dụng hơn những gì vô dụng. Con người cũng không dành nhiều thời gian cho sự nghỉ ngơi và sự tự vấn để xét đến ý nghĩa đời mình. Trẻ em cũng không được khuyến khích dành thời gian vui đùa cho bằng học một môn nào đó vì việc học hữu ích hơn việc vui đùa. Con người ngày càng tước đi niềm vui, sự hồn nhiên mà thay vào đó là lợi ích, vật chất. Trong cái nhìn của mình, Trang Tử đưa ra cái nhìn về hữu dụng và vô dụng như là một cách thức con người thời đại cần suy tư và xem xét thực trạng đời sống mình. Theo đó, con người cần có tầm nhìn lớn để nhìn thấy sự hữu dụng của cái vô dụng. Đi xa hơn, tầm nhìn ấy phải vượt trên sự phân biệt rạch ròi giữa dụng và vô dụng. Sau cùng, muốn đạt được tầm nhìn ấy, con người phải trở về cõi nội, gột rửa lòng mình để có thể sống “lưỡng hành” trong việc xử thế. Sự hữu dụng của cái vô dụng Người có tầm nhìn lớn thấy được sự hữu dụng của cái thiên hạ xem là vô dụng, cũng như giá trị đích thật của sự vật. Cùng là một quả bầu lớn, Huệ Thi cho rằng nó vô dụng mà đập bỏ, còn Trang Tử thì chỉ ra giá trị thật của nó. Với Huệ Thi, trái bầu chỉ có công dụng làm bình, làm gáo đựng nước. Vì thế, “nếu chứa nước thì nó không đủ cứng để chịu được; nếu xẻ nó thành nhiều phần thì lại nông quá, không chứa được bao nhiêu.”[1] Tuy nhiên, trong con mắt của người đại trí, quả bầu lớn ấy có thể được dùng làm một cái phao để qua sông và tiêu dao du trong thiên hạ. Chẳng lẽ mỗi vật hay mỗi sản phẩm phải được chế tác theo một quy định nào đó thì được coi là hữu dụng? Hay đó là do “tâm chưa thông đạt?”[2] Cũng vậy, người đại trí nhìn thấy tính đại dụng của điều mà thiên hạ nghĩ là tầm thường. Cùng một thứ thuốc, người nhìn thấy tính đại dụng của nó mà sử dụng đúng chỗ, đúng thời thì được phong đất; còn người có phương thuốc gia truyền ấy suốt đời chỉ làm nghề đập lụa mà chỉ kiếm được mấy đồng bạc.[3] Quả thế, chính cách tư duy và đánh giá thông thường đã giới hạn cái nhìn lớn của con người đối với giá trị của vạn vật. Lối tư duy thường quy ấy không giúp ta nhận ra những giá trị khác, những mặt khác của cuộc sống và cũng không giúp ta hướng tới cuộc sống tự do đích thật.[4] “Ai cũng biết chỗ dùng được của vật hữu dụng, mà không biết chỗ dùng được của cái vô dụng.”[5] Nói cách khác, chính tầm nhìn, phán đoán và thái độ của mỗi người nhận ra sự hữu dụng của chúng cách khác nhau. Nhưng làm thế nào để đạt được tầm nhìn bao la và rộng lớn ấy? Con người cần đạt tới cái nhìn vượt trên sự hữu dụng và vô dụng của bậc trí nhân. Người đại trí đánh giá sự vật một cách toàn diện vượt trên hữu dụng và vô dụng Người đại trí nhìn nhận sự vật cách toàn diện, còn người tiểu trí đánh giá chúng chỉ theo khía cạnh mà họ quan tâm hay bị gắn chặt vào. Chỉ người có tầm nhìn lớn mới thấy “trời sinh ra tài năng ắt hữu dụng.”[6] Chính tầm nhìn lớn mới có thể đánh giá sự vật một cách hoàn thế, người thợ mộc tên Thạch nhìn thấy một cây đại thụ bên đường nhưng lại bỏ đi vì chê nó là “bất tài chi mộc.”[7] Theo ông, nó là cây vô dụng bởi gỗ của nó đóng vật dụng sẽ mau hư. Nhưng ông không thấy được tính hữu dụng từ cái bóng của nó. Nhờ cành quăn queo với tán lá rộng, nó tỏa bóng mát cho cả một vùng rộng lớn để người và vật đều đến đó nghỉ ngơi, vui đùa trong những ngày hè nóng bức. Trong giấc mộng của mình, ông Thạch mới biết rằng nó tồn tại lâu dài và là tượng trưng cho thổ thần linh thiêng là vì sự dường như vô dụng của nó trong mắt người đời. Nhờ sự dường như vô dụng, cái cây được bảo tồn. Chính ông Thạch, với cái nhìn của mình, bị cây thiêng chê trách là “một người vô dụng nên không biết được thế nào là một cây vô dụng.”[8] Ông ngộ ra rằng lấy thường tình mà phán đoán, chê trách giá trị của cái cây là một sai lầm lớn. Khi nhìn nhận rằng sự vật được bảo tồn lâu dài vì sự vô dụng, chứ không phải hữu dụng, phải chăng Trang Tử đề cao cái vô dụng hơn hữu dụng? Phải chăng cái vô dụng thì được bảo toàn? Bậc đại trí không đề cao sự hữu dụng hay vô dụng, nhưng là vượt trên cả hai. Trong chuyến đi với các đệ tử, Trang Tử bảo rằng cây trong núi vì vô dụng mà được hưởng hết tuổi trời. Lát sau, ông lại nói rằng vì vô dụng, vì không biết kêu nên con ngỗng bị chủ nhà giết đãi khách.[9] Như thế, cái vô dụng cũng không đưa đến sự bảo toàn chắc chắn. Thật thế, “xét về phương diện công hiệu, muốn nhấn vào sự công dụng thì không vật nào không có công dụng ; muốn nhấn vào sự vô dụng thì không vật nào có công dụng.” [10] Đối với người cụt chân, giầy dép mất công hiệu cố hữu của nó. Đối với người chết, của cải, đồ trang sức cũng chẳng còn có ý nghĩa.[11] Với Trang Tử, bậc đại trí chọn ở “giữa hữu dụng và vô dụng.”[12] Người ấy không thiên lệch bên nào để xem xét và phán đoán nhưng dụng hay vô dụng tùy thời và tùy người. Nhưng ở vào trung gian như vậy, người ta vẫn chưa tránh khỏi lụy mà cũng chưa được ở gần Đạo. Chính xác hơn, Trang Tử không chỉ ở giữa mà còn vượt trên sự phân biệt hữu dụng và vô dụng, vượt trên được bảo toàn hay không được bảo toàn, vượt trên sinh hay tử. Nói cách khác, tùy thời, tùy người, tùy nơi, người đại trí không cố chấp theo một thái độ để đánh giá và nhận định vấn đề. Nhưng làm thế nào để có thể có cái nhìn vượt trên sự phân biệt vô dụng và hữu dụng ấy? Trang Tử cho thấy, con người cần phải có sự tự do nội tâm, vượt trên ngoại vật. Con tim tự do vượt trên ngoại vật Muốn đạt được tầm nhìn vượt trên sự hữu dụng và vô dụng, bậc đại trí vượt trên cái lợi và cái danh trong thiên hạ để đạt tới sự tự do nội tâm trong cái nhìn bình đẳng với mọi vật. Thật vậy, cảnh giới của sự sống có lẽ không phải ở việc chọn cái hữu dụng hay vô dụng – vốn là ngoại vật, nhưng quan trọng hơn là “nhìn thấy những rào cản trong lòng để tìm thấy vị trí của chính mình trong vũ trụ bao la.”[13] Thấy được những điều trói buộc mình rồi, bậc trí nhân sống tự do, tiêu dao du, thưởng nếm niềm vui cuộc đời. Nói đúng hơn, họ không để cho lòng mình dính bén đến cái lợi – vốn nảy sinh từ việc chọn cái hữu dụng hơn cái vô dụng, cái danh – vốn nảy sinh từ việc chọn cái “quí” hơn là cái “tiện”. Bậc trí nhân chọn cuộc sống giản dị, chất phác, hòa đồng, tiêu diêu với Đạo, với đời trong sự “giác ngộ.”[14] Sự giác ngộ ấy là một quá trình lâu dài. Theo chiết tự, “giác” 觉 bao hàm chữ 见– nghĩa là nhìn thấy; “ngộ” 悟gồm chữ “ngô” 吾 – nghĩa là “tôi,” và chữ “tâm” đó, giác ngộ là hành trình nhìn vào tâm của mình trong những biến cố hằng ngày.[15] Từ đó, ngày qua ngày, người ấy hiểu thấu con tim của mình và thấy Đạo trong tim. Chỉ khi nhìn thấy tâm của mình bằng một hành trình dài với “tâm trai”[16] và “tọa vong,”[17] con người mới có cơ may làm cho mình trở nên tự do với ngoại vật, vượt trên cái nhìn đời thường phân biệt giữa hữu dụng và vô dụng. Bằng con tim tự do, bậc đại trí cũng không đánh giá con người như sự vật theo tiêu chuẩn của sự hữu dụng và vô dụng nhưng chú trọng cái bản thiên nơi con người. Thật vậy, vì tâm trí dựa trên cái nhìn phân biệt hữu dụng và vô dụng, con người chẳng những đánh giá sự vật theo tiêu chuẩn ấy mà còn áp dụng cả với tha nhân. Bậc đại trí nhìn thấy sức mạnh nội tâm, cái đức nơi những con người mà xã hội coi thường, khinh mạn vì sự tật nguyền và dường như vô dụng của họ. Nước Vệ xưa có một người xấu xí, bị người ta gọi là quỉ Đà. Khi hát, hắn ta không hề lĩnh xướng mà chỉ phụ họa khi hát. Hắn ta không có quyền hành, cũng chẳng có tiền để cứu người khác khỏi chết hay khỏi đói. Kiến thức của hắn cũng chẳng tinh thông gì mà thân hình hắn lại còn xấu xí khiến người khác phát sợ. Nhưng từ nhà vua quan cho tới thường dân, khi gần hắn đều cảm thấy vui, lúc xa hắn đều cảm thấy nhớ. Hắn tuy không nói gì, cũng chẳng có công lao chi, nhưng nhà vua chẳng những tín nhiệm giao việc mà còn sợ hắn từ chối nữa.[18] Hắn, tuy bề ngoài, bị người đời coi thường, bị xem là vô dụng, nhưng con người ấy lại có “cái tâm toàn vẹn và cái đức không hiện tỏ ra bên ngoài nên người ta không thấy.”[19] Quả vậy, bậc đại trí một khi tâm tự do, không căn cứ cái bề ngoài, cái hiệu năng mà đánh giá người khác nhưng chỉ nhìn vào sức mạnh nội tại tiềm ẩn sâu xa nơi con người. Chính sự tự do nội tâm là chìa khóa của sự tiêu diêu trong thiên hạ. Người ấy không còn nhìn thế giới với con mắt nhị nguyên phân biệt nhưng là nhất nguyên trong Đạo. Bậc chân nhân đạt được tự do nội tâm nên rong chơi, thảnh thơi, không lệ thuộc vào ngoại vật, thậm chí là chính mình. Người ấy không còn nhìn đời với não trạng phân biệt bởi não trạng ấy dẫn tới ghen tương, tham vọng và thèm muốn. Đạt đến tự do nội tâm rồi, người ấy thích nghi với hoàn cảnh và biến hóa của tự nhiên mà đạt tới “lưỡng hành.”[20] Lưỡng hành trong việc xử thế “Lưỡng hành” là cách hành xử của bậc nội thánh ngoại vương. Người ấy đặt mình ở trung tâm, nghỉ ngơi nơi quân bình của Đạo. Bên trong, người ấy vượt lên sự phân biệt phải – trái, lớn – nhỏ, quí – tiện, hữu dụng – vô dụng. Bên ngoài, người ấy thích ứng, sống trung dung với đời.[21] Bởi cái nhìn của người đời thích phân biệt rạch ròi như “triêu tam mộ tứ” với “triêu tứ mộ tam”[22] nên bậc chân nhân tùy nghi mà xử thế. Bởi “nước thật yên lặng rồi thì mực nước bình”[23] nên bậc chân nhân toàn vẹn suy xét mọi việc trong thế gian bằng cái nhìn vượt thế gian. Hơn thế, lưỡng hành là cách thế của người đã khám phá ra cái “nhất” của Đạo nên bao quát được mọi biến hóa của thời và vật.[24] Nói cách khác, người ấy biết rằng vạn vật hợp nhất trong Đạo, nên không phân biệt vật này với vật khác, thậm chí mình với vật.[25] Đi xa hơn, bậc chân nhân không phân biệt mình với ngoại vật, mình với tha nhưng coi mình là một phần tử của vũ trụ. Với Trang Tử, ta và vật đều bình đẳng với nhau, ta và vật đều có cái thú của riêng mình và cùng được tự do sống theo bản tính của mình. Không áp đặt tiêu chuẩn và thú vui của mình cho tha và vật, ngược lại còn có thể khiến bản tính của chúng bị tổn vong.[26] Hơn thế, nơi Đạo, ta và vật dường như đều ở trong một giấc mộng lớn của sự tương đối và bình đẳng với nhau, hoán đổi trong cùng một tâm thức hòa đồng với vũ trụ.[27] Hẳn nhiên, trong việc xử thế, người đại trí thực sự không nhắm đến việc lợi dụng hoàn cảnh, để mưu lợi cho mình. Thật vậy, dù người ấy có thể có tầm nhìn hơn người để nhìn thấy tính đại dụng của sự vật, nhưng không lợi dụng nó mà cầu lợi, cầu danh cho mình. Người ấy cũng không đua tranh, không ghen tị, không thiên lệch nhưng chỉ chiêm ngắm Đạo và cùng tạo vật sống theo Đạo.[28] Người ấy chẳng lạm dụng ngũ giác, lục căn hay cả sự thông minh trong việc đối nhân xử thế nhưng đã đạt đến mức trung dung ngay cả trong việc thực hành nhân nghĩa. Nói cách khác, bậc đại trí đi theo chính Đạo trong thiên hạ, đạt đến sự tự do nội tâm với hữu dụng và vô dụng, với lợi và danh.[29] Vì thế, họ chẳng chạy theo cái hữu dụng vì cái hữu dụng này ắt sinh ra cái hữu dụng khác. Dần dà, hữu dụng bị đẩy đến không điểm dừng mà sinh ra bao nhiêu tai hại, mất đi thiên tính thuần phác, tự nhiên nơi Đạo.[30] Nhưng một khi đã hòa hợp với Đạo, có được tự do nội tâm, người ấy sử dụng gì cũng “không thay đổi trong lòng, không theo ngoại vật, luôn luôn thích hợp với việc.”[31] Như thế, với Trang Tử, con người cần nhìn cuộc đời bằng một tầm nhìn rộng lớn, vượt trên mọi sự phân biệt, phân tranh giữa hữu dụng – vô dụng, giữa quí – tiện để đạt đến đích nhắm là sống đời vui vẻ, hòa đồng với Đạo. Thánh nhân khi ấy ở giữa đời mà không thuộc về đời, “nhỏ xíu thuộc về loài người, nhưng lại vĩ đại vì đồng thể với trời.”[32] Phê Bình Xét trong cái nhìn của Đạo gia về sự vô dụng và hữu dụng, Lão Tử xét trên từng sự vật cụ thể để cho thấy cái dường như vô dụng lại là cái quyết định sự hữu dụng của sự vật. “Ba chục căm, hợp lại một bầu, nhờ chỗ không, mới có cái dùng của xe. Đào đất để làm chén bát, nhờ chỗ không, mới có cái dùng của nó. Khoét cửa ngõ để làm nhà, nhờ chỗ không, mới có cái dùng của nó.”[33] Với Trang Tử, cái vô là điều đại dụng trong đời sống để có thể phát huy hết tác dụng của cái hữu. Tuy nhiên, cái vô có công dụng của nó cũng nhờ được đặt với cái hữu. Vì thế, với Lão Tử, không phải cái nào quan trọng hơn cái nào cho bằng phải nhìn thấy “hữu vô tương sinh”[34] trong một thể thống nhất. Đi xa hơn, trong thế giới đề cao hữu danh, hữu vi, Lão Tử nhấn mạnh đến việc con người cần trở về với Đạo vô danh, mộc mạc để có một tâm hồn an tĩnh, chứ không gắn mình vào thế giới hữu danh, vốn làm phát sinh bao dục vọng và đi xa Đạo.[35] Không xét trên từng sự vật và phát triển theo hướng vũ trụ luận, Trang Tử nhìn sự hữu dụng và vô dụng trong cách nhìn của những sự vật, sự việc khác nhau. Nếu Lão Tử hướng tới Đạo siêu việt, tuyệt đối, thì Trang Tử hướng tới việc tìm Đạo siêu việt ấy ngay trong tâm hồn con người. Bằng một cái tâm tĩnh và trong, Trang Tử chủ trương tề vật, không coi trọng vật nào hơn vật Tử cho thấy cái nhìn vượt trên cả sự hữu dụng và vô dụng, vượt trên hữu vi và vô vi để đạt đến Đạo là nguyên lý tối cao và là cùng đích. Đạo vô hình, bao quát và thường hằng bất biến là nguyên lý vượt trên cả cái vô và cái hữu vi vốn chỉ mang tính tương đối. Ông ở lại trong sự tự do ngưng lặng của nội tâm, dùng “trí năng hiểu được tâm mình, rồi nhờ tâm ấy mà biết được mọi biến hóa vạn vật,”[36] biết được cái dụng nơi Đạo, nơi người và nơi vật. Phải chăng người đời với cái nhìn hữu danh chê trách ông là bởi họ chỉ có cái nhìn của kẻ tiểu trí mà thôi? Người ta cũng có thể trách ông vô dụng như cách mà Huệ Thi nói.[37] Người ta có thể cho rằng tư tưởng của ông chẳng đóng góp gì cho tiến bộ của xã hội bởi muốn tiến hóa, con người cần tạo ra thật nhiều thứ hữu dụng. Tuy nhiên, nhìn lại giữa một xã hội thực dụng, trong cái nhìn hữu danh, hữu dụng, tư tưởng của Trang Tử như một tiếng nói phản tỉnh. Con người chọn cái hữu dụng để rồi lòng tham càng ngày càng mạnh, đi từ hết cái hữu dụng này đến hữu dụng khác. Thậm chí, con người lấy chính tiêu chuẩn hữu dụng như khả năng, tính hiệu quả để đánh giá tha nhân. Vì thế, con người đánh mất luôn cảm thức với đồng loại và với vũ trụ xung quanh. Con người đi quá xa với mục đích ban đầu của mình là sự vui sống. Ngược lại, con người đang nhận thấy những hậu quả của việc ưu tiên cho sự hữu dụng chiến tranh, thiên nhiên bị phá hủy. Tất cả khởi đi từ lòng yêu mình, yêu danh, yêu lợi không biết nào ngừng. Con người xem trọng những gì hữu ích để cải hóa thế giới nhưng vô tình lại phá vỡ cơ cấu ấy. Trang Tử gợi mở một hướng đi căn bản và sâu xa của “Đạo nội tại” để hòa đồng với thiên nhiên, nối lại mối tương quan nhân – nhiên đã có từ thuở trước. Người ta cũng có thể trách ông không ra làm quan giúp đời nhưng quả thực, ông giúp đời ở một mức độ lớn lao hơn người đời có thể thấy. Chính bởi xã hội thời ông loạn lạc, đua tranh, biện biệt vì danh, vì lợi nên ông ẩn đi, không can gián để cho đời thấy được những giá trị cao cả trong cuộc đời. Ông vô vi mà chính là đại hữu vi, đúng như cách nhìn của một bậc chân nhân. Một bác sĩ giỏi là người chữa được những bệnh nguy tử khi bệnh tái phát. Nhưng một bác sĩ thực sự tài năng là người nhìn thấy những nguyên nhân sâu xa, những điều tưởng chừng như đơn giản, bình thường để phòng chống giúp người bệnh không gặp phải bệnh nguy tử. Trang Tử quả là một bác sĩ tài năng như thế. Đến với đời, bằng một tầm nhìn rộng lớn và sâu xa, ông đã chỉ ra điều quan trọng hơn cả là phải sống cuộc đời giản dị, thuần phác của một con tim tự do, vượt trên ngoại vật và sự phân biệt thì mới có được cuộc sống hạnh phúc và bình yên, mới ổn định xã hội. Tâm hồn Trang Tử như một dòng nước ngưng lặng để có thể làm cho những dòng nước khác được ngưng lặng.[38] Với quy luật lưỡng hành, bậc trí nhân biết rằng tâm trí con người không tránh khỏi sự phân biệt nhưng điều quan trọng hơn cả không phải là thế giới bên ngoài đem đến cho ta những gì, cho bằng tâm trí ta đề cao những giá trị nào trong việc xác định thế nào là hữu dụng và vô dụng.[39] Khi quá thiên về lợi ích trước mắt, con người bỏ quên những giá trị khác như niềm vui sống bên gia đình, bạn bè, hưởng nếm cái đẹp trời đất trong cõi tiêu dao du. Trang Tử muốn nhấn mạnh đến một con tim tự do, và sự vui sống hòa đồng với trời, với người và với vạn vật trong tính bản nhiên của mình. Kết Luận Tóm lại, Trang Tử hướng con người đến cái nhìn vượt trên sự phân biệt hữu dụng và vô dụng nơi ngoại vật để trở về với con tim tĩnh lặng của Đạo nội tâm. Nhờ thế, con người có thể nhìn ra sự hữu dụng riêng của vạn vật theo như bản tính được trời ban cho nó. Cũng vậy, người ấy có thể sử dụng và đánh giá vạn vật theo quy luật “lưỡng hành” của bậc “nội thánh ngoại vương.” Giữa một xã hội coi trọng quí hơn tiện, hữu dụng hơn vô dụng, quan điểm tề vật, trở về nội tại với Đạo thuần nhất, chất phác của Trang Tử để tiêu diêu tự tại trong cõi nội vẫn là một lời mời gọi và một sự thách đố. Chỉ những ai đã được thưởng nếm ít nhiều niềm vui và sự phong phú của thế giới ấy mới thấy nó huyền vi và hạnh phúc dường nào. Một khi sống trong cảnh giới của bậc đại trí, người ấy mới có bản lãnh xâm nhập vào đời, sống giữa đời để truyền cảm hứng cho những người khác sống trong cảnh giới của Đạo. TÀI LIỆU THAM KHẢO Lão Tử, Đạo Đức Kinh, Nguyễn Hiến Lê chuyển dịch, Hà Nội Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 1998. Lý Minh Tuấn, Đông Phương Triết Học Cương Yếu, Đồng Nai Nhà Xuất Bản Đồng Nai, 2003. Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Nguyễn Hiến Lê chuyển dịch, Thành Phố Hồ Chí Minh Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 2008. Yu Dan, Trang Tử Tâm Đắc, Lê Tiến Thành và Dương Ngọc Hân chuyển dịch, Thành Phố Hồ Chí Minh Nhà Xuất Bản Trẻ, 2011. [1] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tiêu Dao Du, Nguyễn Hiến Lê chuyển dịch, Thành Phố Hồ Chí Minh Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 2008, p. 154. [2] “Hữu bồng chi tâm.” Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tiêu Dao Du, [3] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tiêu Dao Du, [4] Yu Dan, Trang Tử Tâm Đắc, Lê Tiến Thành và Dương Ngọc Hân chuyển dịch, Thành Phố Hồ Chí Minh Nhà Xuất Bản Trẻ, 2011, p. 39. [5] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Nhân Gian Thế 9, p. 201. [6] Nguyên văn câu thơ của Lý Bạch “thiên sinh ngã tài tất hữu dụng.” Yu Dan, Trang Tử Tâm Đắc, [7] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Nhân Gian Thế 4, p. 197 -8. [8] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Nhân Gian Thế 4, p. 198. [9] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Sơn Mộc 1, p. 365. [10] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Thu Thủy 1, [11] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đức Sung Phù 4, p. 209. [12] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Sơn Mộc 1, p. 365. [13] Yu Dan, Trang Tử Tâm Đắc, p. 30. [14] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Từ Vô Quỷ 4, p. 432 [15] Yu Dan, Trang Tử Tâm Đắc, p. 47. [16] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Nhân Gian Thế 1, p. 192. [17] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đại Tôn Sư 7, p. 227. [18] Trang Tử, Nam Hoa Kinh 4, p. 208-9. [19] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đức Sung Phù 4, p. 208-9. [20] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tề Vật Luận 5, [21] Lý Minh Tuấn, Đông Phương Triết Học Cương Yếu, Đồng Nai Nhà Xuất Bản Đồng Nai, 2003, p. 305. [22] Câu chuyện ông lão phát khoai cho khỉ. Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tề Vật Luận 5, p. 165. [23] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đức Sung Phù 4, p. 209. [24] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đức Sung Phù 4, p. 209. [25] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Tề Vật Luận 3, p. 162-4. [26] Trang Tử chuyện vua Lỗ lấy tiêu chuẩn của người để nuôi chim. Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đạt Sinh 13, p. 363. [27] Lý Minh Tuấn, Đông Phương Triết Học Cương Yếu, p. 308. [28] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đại Tôn Sư 1, p. 215. [29] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Biền Mẫu 1,p. 241. [30] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Khư Khiếp 4, p. 251-2. [31] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đạt Sinh 12, p. 362. [32] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đức Sung Phù 5, p. 211. [33] Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 11, Nguyễn Hiến Lê chuyển dịch, Hà Nội Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 1998, [34] Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 2, p. 166. [35] Lão Tử, Đạo Đức Kinh 37, p. 220. [36] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đức Sung Phù 1, p. 205. [37] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Ngoại Vật 7, p. 465. [38] Trang Tử, Nam Hoa Kinh, Đức Sung Phù 1, p. 205. [39] Yu Dan, Trang Tử Tâm Đắc, p. 51.
Tư tưởng của Trang Tử là tư tưởng đặc biệt nhất trong bách gia chư tử. Bách Gia Chư Tử những triết lý và tư tưởng ở Trung Hoa cổ đại nở rộ vào giai đoạn từ thế kỷ thứ 6 đến năm 221 TCN trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc Khổng Tử nói, chúng ta phải làm người cho tốt Khắc kỷ phục lễ vi nhân. Nhật nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên. » Khắc phục ham muốn của mình, nói và làm phù hợp với lễ. Ngày ngày làm được như thế, người trong thiên hạ sẽ cùng về đức nhân » Mặc dù Lão tử nổi danh trong Đạo gia, nhưng thực tế, mục đích lý luận Đạo khả đạo, phi thường đạo » của ông vẫn được người đời sử dụng. Nếu có thể nói được đạo là gì, thì đó không phải đạo vĩnh cửu trường tồn Riêng mình Trang Tử không nói đến phẩm chất làm người, không nhắc về đời sống xã hội, không bàn về lý tưởng phấn đấu. Ông chỉ ước ao hạnh phúc, chỉ mong ai cũng tìm được hạnh phúc cho mình. Ông nói Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất. » Trời đất sinh ra cùng với ta, vạn vật với ta là một Từ đầu đến cuối, ông chưa bao giờ phủ nhận bất kỳ ai, chỉ mong ai cũng có thể đạt được hạnh phúc thực sự. Người sống ở đời, có vô vàn lựa chọn khác nhau. Bạn có thể là một người giàu, có thể là một người nghèo. Bạn có thể chọn lấy cuộc sống bình lặng ổn định, cũng có thể sống một cuộc đời mạo hiểm thử thách. Bạn có thể khao khát kiếm thật nhiều tiền, hoặc chỉ cần sống tạm bợ ngày qua ngày, bữa nào hay bữa ấy, phớt lờ thời cuộc thế gian. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, ai cũng đều mong cầu một cuộc sống hạnh phúc, không riêng mình ai. Vậy hạnh phúc ấy bắt nguồn từ đâu ? Là nhờ thân phận, địa vị của bạn à ? Hay dựa vào của cải bạn sở hữu trong tay ? Trang Tử nói với bạn rằng, cái nào cũng không phải. Hạnh phúc của bạn xuất phát từ thế giới nội tâm ẩn sâu trong chính con người bạn mà thôi. Trước khi xử lý câu hỏi về hạnh phúc này, chúng ta hãy giải quyết một vấn đề khác, ấy là, nỗi đau trong cuộc sống bắt đầu từ đâu ? Trang Tử đã đưa ra lời giải đáp trong Tề vật luận » Bàn luận về vạn vật ngang hàng. Ông nói Kỳ hữu chân quân tồn yên, như cầu đắc kỳ tình dữ bất đắc, vô ích tổn hồ kỳ chân. » Có những thứ lần lượt chi phối, định yên mọi vật, hay có một lực lượng làm chủ muôn điều ? Cho dù thật khó để khám phá ra thứ ấy, cũng không ảnh hưởng đến sự tồn tại của bất kỳ điều gì, kể cả chính bản thân thứ kia. Một người có thể phân thành hai cái tôi », một cái tôi tinh thần, một cái tôi thể xác. Cái tôi tinh thần chính là trái tim của bạn, không ngừng cảm nhận thế giới này. Bạn có thể cảm nhận niềm hạnh phúc, cũng có thể cảm thấy nỗi u buồn. Bạn có thể cảm thấy sự thù địch của thế giới nhắm tới bạn, cũng có thể cảm nhận được thiện chí thế gian này giành cho mình. Nhưng dù là loại cảm nhận nào đi chăng nữa, trái tim của bạn mới là chủ nhân chân chính của những nhận định này. Lấy ví dụ, khi một người lạ trên đường giơ tay chào bạn, bạn có thể nghĩ rằng người ta có thiện ý, cũng có thể coi đó là một hành động ác ý đáng ngờ. Người lạ kia chỉ thực hiện một cử chỉ chào hỏi không hơn không kém, nhưng điều thực sự khiến bạn cảm nhận cử chỉ ấy theo chiều hướng tốt hoặc xấu, lại là cảm xúc từ sâu thẳm bên trong. Nhưng tại sao trong thâm tâm bạn lại cảm thấy như vậy ? Bởi vì đấy chính là định kiến ». Kể từ giây phút đặt chân đến thế giới này, chúng ta sẽ không ngừng đánh giá và cảm nhận thế giới bằng đôi mắt của chính bản thân mình. Nhưng liệu những nhận định ấy có là luôn đúng ? Không biết được. Vậy là luôn sai ư ? Không hoàn toàn. Nói vậy, chẳng lẽ phán đoán của người khác lúc nào cũng đúng ? Có thể. Hay những gì họ nói đều sai hết à ? Cũng không hẳn vậy đâu. Thực ra rất khó định nghĩa đâu đúng đâu sai. Ấy vậy, những phán đoán xuất phát tự trong tiềm thức sẽ mang lại cho bạn những cảm giác nhận nhau và những cảm nhận ấy sẽ không ngừng xâm chiếm trái tim, thể xác bạn. Bạn có thể vì những cảm nhận ấy mà vui sống buồn chết, có thể vì những thống khổ kia mà tưởng chừng chẳng thể tiếp tục tồn tại trên cõi đời này. Vậy làm thế nào để thoát khỏi những rằng buộc đó ? Người ta vẫn nói, nhân vô thập toàn, không ai sinh ra mà hoàn hảo cả. Nếu chúng ta nhìn nhận thế giới qua lăng kính của bản thân, sẽ có vô vàn mâu thuẫn nảy sinh, và ta sẽ không bao giờ đưa ra được một câu trả lời chính xác. Càng nỗ lực kiếm tìm lời giải, sự thật càng xa vời khỏi tầm tay ta. Nhưng nếu không bỏ công truy kiếm, ta lại mù mờ chẳng rõ, con đường trước mặt phải đi thế nào cho phải bây giờ ? Đau đớn đã bắt đầu như vậy đấy. Bởi vì chúng ta được sinh ra giữa bao bề bộn như vậy, mới chẳng tìm được câu trả lời mình cần. Nếu vậy thì nên làm gì bây giờ ? Trang Tử nói Xu thủy đắc kỳ hoàn trung, dĩ ứng vô cùng. Thị diệc nhất vô cùng, phi diệc nhất vô cùng dã. Cố viết Mạc nhược dĩ minh » Vòng tròn thị/phi » phải/không phải xoay quanh một điểm chốt, tức cái cốt yếu của Đạo. Chốt ở trung tâm, có thể thích ứng với thiên biến vạn hóa. Đúng sai biến hóa khôn cùng, cách tốt nhất là dùng trái tim sáng suốt soi xét bản chất của muôn sự trên đời. Để bản thân thoát ly hẳn khỏi mọi vấn đề, đứng tại tâm điểm, nhìn lại toàn bộ nhân gian. Tưởng tượng rằng ta đang ở điểm cao nhất đặt tại trung tâm của thế giới, phóng mắt nhìn khắp xung quanh. Thấy được đủ loại người, muôn hình vạn trạng. Thấy cảnh đẹp bốn phương, non nước hữu tình. Thấy cả bản thân trong quá khứ, chìm sâu trong bể khổ đau thương, chẳng có cách nào vẫy vùng thoát khỏi. Thấy rằng có biết bao loại người như thế, ấy vậy mà ai cũng từng trải qua rối bời buồn bã, chán chường thờ thẫn giống ta. Có người nói, chúng sinh đều khổ. Đấy chính là xã hội mà chúng ta đang sống. Chỉ vậy mà thôi. Những gì bạn trải qua là những gì nên được trải qua với tư cách là một con người. Bởi vậy, nhân sinh vô giải. Lối ra duy nhất là mở một cánh cửa sổ cho tâm hồn, ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài. Trong Plato on utopia », Plato có nói đại khái thế này Chúng ta ai cũng đều sống ở trong một cái hang nọ, hai tay trói chặt và lưng hướng về cửa hang. Tia sáng xa xăm len lỏi qua cửa hang động, chiếu lên thân thể chúng ta, rọi bóng hình ta lên vách đá trước mặt. Mỗi người chúng ta chỉ có thể thấy được bóng mình loạng choạng chếch choáng hằn trên thành động, lại chẳng biết thế giới ngoài kia rộng lớn nhường nào. Tôi nghĩ rằng, Trang Tử muốn kể cho chúng ta về một người đã tìm thấy cửa hang kia, và bước ra bên ngoài. Trong Tiêu dao du », ông có viết Miểu cô xạ chi sơn, hữu thần nhân cư yên. Cơ phu nhược băng tuyết, náo ước nhược xử tử, bất thực ngũ cốc, hấp phong ẩm lộ, thừa vân khí, ngự phi long, nhi du hồ tứ hải chi ngoại; kỳ thần ngưng, sử vật bất tỳ lệ nhi niên cốc thục » Trên núi Diễu – Cô Tạ có thần nhân ở, da thịt như băng tuyết, dáng điệu mềm yếu như người con gái chưa chồng. Không ăn năm loài thóc, chỉ hớp gió, uống sương, nương theo hơi mây, cỡi rồng mà bay ngao du ngoài bốn biển. Ngưng thần lại thì có thể làm cho vạn vật không đau ốm hư hoại, lúa thóc lại được mùa Một vị thần nhân đã đắc đạo siêu thoát, sống trong tiên cảnh, da thịt trong suốt, chỉ nếm gió thưởng sương, nương gió đến, cưỡi mây đi, tiêu dao tự tại, người người hâm mộ. Thực ra ông đang dùng phép ẩn dụ, nói với chúng ta rằng mặc dù chẳng thể lay chuyển, trốn thoát khỏi cuộc sống này, nhưng thế giới tinh thần trong mỗi người đều có thể thăng hoa. Chỉ khi bạn thực sự siêu thoát, bạn mới có thể cảm nhận được hạnh phúc thực sự. *Siêu thoát Vượt ra khỏi mọi ràng buộc ở đời. Theo Phật còn có nghĩa là thoát ly, đứng ngoài vòng sinh tử luân hồi. Chỉ khi bạn học cách căm ghét » thế giới này, một chân trời khác mới mở ra trước mắt. Sự ghét bỏ ấy không phải ghét theo cách bạn nghĩ, mà là để bạn thoát khỏi mọi thứ, dùng ánh mắt khách quan chiêm nghiệm nhân sinh của chính bản thân mình. Nhìn thấu thế giới mà có người ngu thì có kẻ gạt, thấu hiểu khó khăn bấy lâu nay vẫn hành hạ mỗi người, bạn mới chợt ngộ ra rằng Thế giới này cũng chỉ như vậy, nhưng cuộc sống của ta không chỉ dừng lại ở đấy, còn bao cảnh đẹp hữu tình ta muốn chiêm ngưỡng, bao núi cao biển rộng ta muốn chinh phục bằng hết thảy sức mình. Thực lòng mà nói, sau khi đọc hết lắm chương nhiều chữ của Bách gia chư tử, Trang Tử là người chạm đến nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn tôi. Phẩm cách bên ngoài quả thực rất quan trọng, nhưng tu dưỡng nội tâm mới là điều kiện tiên quyết đưa bạn đến bất kỳ đâu. Nếu trong lòng bạn không có một ngọn hải đăng sáng rực, sao bạn có thể tìm thấy hòn đảo bạn hằng mong đợi giữa biển cả bao la ? Trang Tử chính là người đã chỉ cho bạn con đường ấy. Bởi vậy, trong lòng tôi, Trang Tử là một đạo sĩ thực sự. Thực tế, Trang Tử cũng có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều tác phẩm văn học cũng như nhiều văn sĩ nhiều thế hệ tiếp theo. Ví dụ, trong bài thơ Ấm tửu kỳ 5 » của Đào Uyên Minh, có câu Thái cúc đông ly hạ. Du nhiên kiến nam sơn. » Dưới chân rào Đông hái nhành cúc. Khoan thai nhàn nhã ngắm núi Nam Phạm Trọng Yêm từng viết Bất dĩ vật hỉ, bất dĩ dĩ bi. *» * Không vui vì cảnh, không buồn vì mình – trích Nhạc dương lâu ký » Hay trong bài từ Thủy điệu ca đầu Trung thu » của Tô Thức có đôi dòng dưới đây Nhân hữu bi hoan ly hợp Nguyệt hữu âm tình viên khuyết Thử sự cổ nan toàn. » Người có lúc buồn vui ly hợp Trăng có lúc mờ tỏ vơi đầy Xưa nay khó gì trọn bề nguyên vẹn. Và thật nhiều những áng văn khác. Bạn có thể cảm nhận được tâm hồn cởi mở phóng khoáng và phẩm chất lạc quan của họ qua từng chữ từng từ. Vậy ai là người đã truyền cảm hứng ấy cho họ ? Không ai khác ngoài Trang Tử. Bởi vì, bọn họ cũng đã tìm ra được một thế giới khác, qua những lời Trang Tử để lại nơi đây. Và hạnh phúc thực sự bọn họ có được, âu cũng là nhờ việc họ rũ bỏ được những chấp niệm về thực tại, dành hết tâm sức để tìm kiếm niềm vui cho chính bản thân mình. _______________ Chú thích phần dịch thơ/giải nghĩa vừa dựa vào giải nghĩa tiếng Trung, vừa tham khảo bản dịch của một số dịch giả. Post Views 464
Tư tưởng của Trang Tử là tư tưởng đặc biệt nhất trong bách gia chư tử. Bách Gia Chư Tử những triết lý và tư tưởng ở Trung Hoa cổ đại nở rộ vào giai đoạn từ thế kỷ thứ 6 đến năm 221 TCN trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc Khổng Tử nói, chúng ta phải làm người cho tốt Khắc kỷ phục lễ vi nhân. Nhật nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên. » Khắc phục ham muốn của mình, nói và làm phù hợp với lễ. Ngày ngày làm được như thế, người trong thiên hạ sẽ cùng về đức nhân » Mặc dù Lão tử nổi danh trong Đạo gia, nhưng thực tế, mục đích lý luận Đạo khả đạo, phi thường đạo » của ông vẫn được người đời sử dụng. Nếu có thể nói được đạo là gì, thì đó không phải đạo vĩnh cửu trường tồn Riêng mình Trang Tử không nói đến phẩm chất làm người, không nhắc về đời sống xã hội, không bàn về lý tưởng phấn đấu. Ông chỉ ước ao hạnh phúc, chỉ mong ai cũng tìm được hạnh phúc cho mình. Ông nói Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, nhi vạn vật dữ ngã vi nhất. » Trời đất sinh ra cùng với ta, vạn vật với ta là một Từ đầu đến cuối, ông chưa bao giờ phủ nhận bất kỳ ai, chỉ mong ai cũng có thể đạt được hạnh phúc thực sự. Người sống ở đời, có vô vàn lựa chọn khác nhau. Bạn có thể là một người giàu, có thể là một người nghèo. Bạn có thể chọn lấy cuộc sống bình lặng ổn định, cũng có thể sống một cuộc đời mạo hiểm thử thách. Bạn có thể khao khát kiếm thật nhiều tiền, hoặc chỉ cần sống tạm bợ ngày qua ngày, bữa nào hay bữa ấy, phớt lờ thời cuộc thế gian. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, ai cũng đều mong cầu một cuộc sống hạnh phúc, không riêng mình ai. Vậy hạnh phúc ấy bắt nguồn từ đâu ? Là nhờ thân phận, địa vị của bạn à ? Hay dựa vào của cải bạn sở hữu trong tay ? Trang Tử nói với bạn rằng, cái nào cũng không phải. Hạnh phúc của bạn xuất phát từ thế giới nội tâm ẩn sâu trong chính con người bạn mà thôi. Trước khi xử lý câu hỏi về hạnh phúc này, chúng ta hãy giải quyết một vấn đề khác, ấy là, nỗi đau trong cuộc sống bắt đầu từ đâu ? Trang Tử đã đưa ra lời giải đáp trong Tề vật luận » Bàn luận về vạn vật ngang hàng. Ông nói Kỳ hữu chân quân tồn yên, như cầu đắc kỳ tình dữ bất đắc, vô ích tổn hồ kỳ chân. » Có những thứ lần lượt chi phối, định yên mọi vật, hay có một lực lượng làm chủ muôn điều ? Cho dù thật khó để khám phá ra thứ ấy, cũng không ảnh hưởng đến sự tồn tại của bất kỳ điều gì, kể cả chính bản thân thứ kia. Một người có thể phân thành hai cái tôi », một cái tôi tinh thần, một cái tôi thể xác. Cái tôi tinh thần chính là trái tim của bạn, không ngừng cảm nhận thế giới này. Bạn có thể cảm nhận niềm hạnh phúc, cũng có thể cảm thấy nỗi u buồn. Bạn có thể cảm thấy sự thù địch của thế giới nhắm tới bạn, cũng có thể cảm nhận được thiện chí thế gian này giành cho mình. Nhưng dù là loại cảm nhận nào đi chăng nữa, trái tim của bạn mới là chủ nhân chân chính của những nhận định này. Lấy ví dụ, khi một người lạ trên đường giơ tay chào bạn, bạn có thể nghĩ rằng người ta có thiện ý, cũng có thể coi đó là một hành động ác ý đáng ngờ. Người lạ kia chỉ thực hiện một cử chỉ chào hỏi không hơn không kém, nhưng điều thực sự khiến bạn cảm nhận cử chỉ ấy theo chiều hướng tốt hoặc xấu, lại là cảm xúc từ sâu thẳm bên trong. Nhưng tại sao trong thâm tâm bạn lại cảm thấy như vậy ? Bởi vì đấy chính là định kiến ». Kể từ giây phút đặt chân đến thế giới này, chúng ta sẽ không ngừng đánh giá và cảm nhận thế giới bằng đôi mắt của chính bản thân mình. Nhưng liệu những nhận định ấy có là luôn đúng ? Không biết được. Vậy là luôn sai ư ? Không hoàn toàn. Nói vậy, chẳng lẽ phán đoán của người khác lúc nào cũng đúng ? Có thể. Hay những gì họ nói đều sai hết à ? Cũng không hẳn vậy đâu. Thực ra rất khó định nghĩa đâu đúng đâu sai. Ấy vậy, những phán đoán xuất phát tự trong tiềm thức sẽ mang lại cho bạn những cảm giác nhận nhau và những cảm nhận ấy sẽ không ngừng xâm chiếm trái tim, thể xác bạn. Bạn có thể vì những cảm nhận ấy mà vui sống buồn chết, có thể vì những thống khổ kia mà tưởng chừng chẳng thể tiếp tục tồn tại trên cõi đời này. Vậy làm thế nào để thoát khỏi những rằng buộc đó ? Người ta vẫn nói, nhân vô thập toàn, không ai sinh ra mà hoàn hảo cả. Nếu chúng ta nhìn nhận thế giới qua lăng kính của bản thân, sẽ có vô vàn mâu thuẫn nảy sinh, và ta sẽ không bao giờ đưa ra được một câu trả lời chính xác. Càng nỗ lực kiếm tìm lời giải, sự thật càng xa vời khỏi tầm tay ta. Nhưng nếu không bỏ công truy kiếm, ta lại mù mờ chẳng rõ, con đường trước mặt phải đi thế nào cho phải bây giờ ? Đau đớn đã bắt đầu như vậy đấy. Bởi vì chúng ta được sinh ra giữa bao bề bộn như vậy, mới chẳng tìm được câu trả lời mình cần. Nếu vậy thì nên làm gì bây giờ ? Trang Tử nói Xu thủy đắc kỳ hoàn trung, dĩ ứng vô cùng. Thị diệc nhất vô cùng, phi diệc nhất vô cùng dã. Cố viết Mạc nhược dĩ minh » Vòng tròn thị/phi » phải/không phải xoay quanh một điểm chốt, tức cái cốt yếu của Đạo. Chốt ở trung tâm, có thể thích ứng với thiên biến vạn hóa. Đúng sai biến hóa khôn cùng, cách tốt nhất là dùng trái tim sáng suốt soi xét bản chất của muôn sự trên đời. Để bản thân thoát ly hẳn khỏi mọi vấn đề, đứng tại tâm điểm, nhìn lại toàn bộ nhân gian. Tưởng tượng rằng ta đang ở điểm cao nhất đặt tại trung tâm của thế giới, phóng mắt nhìn khắp xung quanh. Thấy được đủ loại người, muôn hình vạn trạng. Thấy cảnh đẹp bốn phương, non nước hữu tình. Thấy cả bản thân trong quá khứ, chìm sâu trong bể khổ đau thương, chẳng có cách nào vẫy vùng thoát khỏi. Thấy rằng có biết bao loại người như thế, ấy vậy mà ai cũng từng trải qua rối bời buồn bã, chán chường thờ thẫn giống ta. Có người nói, chúng sinh đều khổ. Đấy chính là xã hội mà chúng ta đang sống. Chỉ vậy mà thôi. Những gì bạn trải qua là những gì nên được trải qua với tư cách là một con người. Bởi vậy, nhân sinh vô giải. Lối ra duy nhất là mở một cánh cửa sổ cho tâm hồn, ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài. Trong Plato on utopia », Plato có nói đại khái thế này Chúng ta ai cũng đều sống ở trong một cái hang nọ, hai tay trói chặt và lưng hướng về cửa hang. Tia sáng xa xăm len lỏi qua cửa hang động, chiếu lên thân thể chúng ta, rọi bóng hình ta lên vách đá trước mặt. Mỗi người chúng ta chỉ có thể thấy được bóng mình loạng choạng chếch choáng hằn trên thành động, lại chẳng biết thế giới ngoài kia rộng lớn nhường nào. Tôi nghĩ rằng, Trang Tử muốn kể cho chúng ta về một người đã tìm thấy cửa hang kia, và bước ra bên ngoài. Trong Tiêu dao du », ông có viết Miểu cô xạ chi sơn, hữu thần nhân cư yên. Cơ phu nhược băng tuyết, náo ước nhược xử tử, bất thực ngũ cốc, hấp phong ẩm lộ, thừa vân khí, ngự phi long, nhi du hồ tứ hải chi ngoại; kỳ thần ngưng, sử vật bất tỳ lệ nhi niên cốc thục » Trên núi Diễu – Cô Tạ có thần nhân ở, da thịt như băng tuyết, dáng điệu mềm yếu như người con gái chưa chồng. Không ăn năm loài thóc, chỉ hớp gió, uống sương, nương theo hơi mây, cỡi rồng mà bay ngao du ngoài bốn biển. Ngưng thần lại thì có thể làm cho vạn vật không đau ốm hư hoại, lúa thóc lại được mùa Một vị thần nhân đã đắc đạo siêu thoát, sống trong tiên cảnh, da thịt trong suốt, chỉ nếm gió thưởng sương, nương gió đến, cưỡi mây đi, tiêu dao tự tại, người người hâm mộ. Thực ra ông đang dùng phép ẩn dụ, nói với chúng ta rằng mặc dù chẳng thể lay chuyển, trốn thoát khỏi cuộc sống này, nhưng thế giới tinh thần trong mỗi người đều có thể thăng hoa. Chỉ khi bạn thực sự siêu thoát, bạn mới có thể cảm nhận được hạnh phúc thực sự. *Siêu thoát Vượt ra khỏi mọi ràng buộc ở đời. Theo Phật còn có nghĩa là thoát ly, đứng ngoài vòng sinh tử luân hồi. Chỉ khi bạn học cách căm ghét » thế giới này, một chân trời khác mới mở ra trước mắt. Sự ghét bỏ ấy không phải ghét theo cách bạn nghĩ, mà là để bạn thoát khỏi mọi thứ, dùng ánh mắt khách quan chiêm nghiệm nhân sinh của chính bản thân mình. Nhìn thấu thế giới mà có người ngu thì có kẻ gạt, thấu hiểu khó khăn bấy lâu nay vẫn hành hạ mỗi người, bạn mới chợt ngộ ra rằng Thế giới này cũng chỉ như vậy, nhưng cuộc sống của ta không chỉ dừng lại ở đấy, còn bao cảnh đẹp hữu tình ta muốn chiêm ngưỡng, bao núi cao biển rộng ta muốn chinh phục bằng hết thảy sức mình. Thực lòng mà nói, sau khi đọc hết lắm chương nhiều chữ của Bách gia chư tử, Trang Tử là người chạm đến nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn tôi. Phẩm cách bên ngoài quả thực rất quan trọng, nhưng tu dưỡng nội tâm mới là điều kiện tiên quyết đưa bạn đến bất kỳ đâu. Nếu trong lòng bạn không có một ngọn hải đăng sáng rực, sao bạn có thể tìm thấy hòn đảo bạn hằng mong đợi giữa biển cả bao la ? Trang Tử chính là người đã chỉ cho bạn con đường ấy. Bởi vậy, trong lòng tôi, Trang Tử là một đạo sĩ thực sự. Thực tế, Trang Tử cũng có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều tác phẩm văn học cũng như nhiều văn sĩ nhiều thế hệ tiếp theo. Ví dụ, trong bài thơ Ấm tửu kỳ 5 » của Đào Uyên Minh, có câu Thái cúc đông ly hạ. Du nhiên kiến nam sơn. » Dưới chân rào Đông hái nhành cúc. Khoan thai nhàn nhã ngắm núi Nam Phạm Trọng Yêm từng viết Bất dĩ vật hỉ, bất dĩ dĩ bi. *» * Không vui vì cảnh, không buồn vì mình – trích Nhạc dương lâu ký » Hay trong bài từ Thủy điệu ca đầu Trung thu » của Tô Thức có đôi dòng dưới đây Nhân hữu bi hoan ly hợp Nguyệt hữu âm tình viên khuyết Thử sự cổ nan toàn. » Người có lúc buồn vui ly hợp Trăng có lúc mờ tỏ vơi đầy Xưa nay khó gì trọn bề nguyên vẹn. Và thật nhiều những áng văn khác. Bạn có thể cảm nhận được tâm hồn cởi mở phóng khoáng và phẩm chất lạc quan của họ qua từng chữ từng từ. Vậy ai là người đã truyền cảm hứng ấy cho họ ? Không ai khác ngoài Trang Tử. Bởi vì, bọn họ cũng đã tìm ra được một thế giới khác, qua những lời Trang Tử để lại nơi đây. Và hạnh phúc thực sự bọn họ có được, âu cũng là nhờ việc họ rũ bỏ được những chấp niệm về thực tại, dành hết tâm sức để tìm kiếm niềm vui cho chính bản thân mình. _______________ Chú thích phần dịch thơ/giải nghĩa vừa dựa vào giải nghĩa tiếng Trung, vừa tham khảo bản dịch của một số dịch giả. Nguồn Vietwriter 310
Triết gia Trung Hoa Trang Tử nhận thấy có sự tồn tại của hai thế giới thế giới của vật thực khách quan ngón tay – 手 指 thủ chỉ, con ngựa – 馬 mã, cả hành động chỉ vào và nói câu liên quan đến con ngựa và thế giới của “指” [zhǐ] “碼” [mǎ] viết/nói – tức là thế giới của ngôn ngữ muốn và cũng tự cho mình có thể bao trùm và chứa đựng được tất thảy Ngôi nhà Hữu Thể – Heidegger. Quan hệ giữa hai thế giới đó diễn ra như thế nào ở nhân loại nói-viết? Đó là câu hỏi mà Trang Tử đã đề xuất ở thiên tản văn triết học Tề Vật Luận. Bài viết này là một cố gắng cắt nghĩa nhận thức Trang Tử về quan hệ ngôn ngữ-hiện thực trong bối cảnh ngôn ngữ học triết học Giải cấu trúc luận. Tiếp tục đọc → Derida bắt đầu giải cấu trúc đối với cái ý thức logos ngữ âm trung tâm chủ nghĩa của văn hoá phương Tây với hành động cải biến chỉ một chữ cái E trong từ DIFFERENCE thành chữ A, sinh tạo một “từ” mới DIFFERANCE – một “từ” có thể viết, nhưng không có thể nghe và không thể được lí giải trong nói ngôn thuyết – speech. Vậy mà theo chúng tôi Giải cấu trúc luận cuối cùng vẫn còn công nhận một logos ngữ âm chung cực tối cao “đang ngôn thuyết” như là “biên giới sau cùng”. Lão Trang Trung Hoa thì không như vậy. Dường như họ đã bước qua cái giới hạn sau cùng đó để đi vào trong bản nguyên siêu/tiền ngôn ngữ mệnh danh “Đạo”. Thế nhưng cần biết “Đạo” vô thuỷ vô chung, vượt lên trên cái gọi là “in the beginning was the Word”. Liên hệ Lão Trang với Derida là dịp để nêu câu hỏi – giữa Vô Ngôn im lìm, Giải cấu trúc luận tìm thấy khác biệt gì giữa Đông và Tây? Tiếp tục đọc →
tề vật luận của trang tử